[In trang]
Đề xuất bổ sung thông tin tiêu thụ năng lượng theo vùng khí hậu trên nhãn năng lượng cho điều hòa không khí
Thứ ba, 15/09/2026 - 13:44
Nhóm nghiên cứu đến từ Khoa kỹ thuật năng lượng, Trường Kỹ thuật và Công Nghệ, Đại học Nha Trang (NTU) và Hội KHKT lạnh và Điều hòa không khí Việt Nam (VISRAE) mới đây đã thực hiện nghiên cứu “Xây dựng phân vùng khí hậu Việt Nam để tính tiêu thụ năng lượng cho máy điều hòa phòng RAC”.
Nhóm nghiên cứu gồm có GS.TS Nguyễn Đức Lợi (VISRAE) , TS. Trần Đại Tiến (NTU), TS Nguyễn Hữu Nghĩa (NTU), TS. Lê Như Chính (NTU), KS. Trần Thanh Bình (NTU), ThS Huỳnh Văn Thạo (NTU).
Nhóm nghiên cứu kiến nghị cải tiến việc dán nhãn năng lượng tại Việt Nam bằng cách bổ sung thông tin chi tiết về hiệu suất và điện năng tiêu thụ (kWh điện) theo từng khu vực địa lý (vùng khí hậu) cụ thể.
Dưới đây là trao đổi với GS.TS. Nguyễn Đức Lợi, đại diện nhóm nghiên cứu về ý nghĩa thực tiễn của đề tài kể trên.
Xin chào GS.TS. Nguyễn Đức Lợi. Ông hãy cho biết, động lực để nhóm tiến hành nghiên cứu xây dựng phân dùng khí hậu Việt Nam để tính tiêu thụ năng lượng cho máy điều hòa?
GS.TS. Nguyễn Đức Lợi: 
Tiêu thụ năng lượng của máy điều hòa là một thông số rất được quan tâm, đặc biệt trước thực trạng biến đổi khí hậu như hiện nay. Tiêu thụ năng lượng điều hòa phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, trong đó bin nhiệt độ là một yếu tố quan trọng nhất. 
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 10273-1:2013 (ISO 16358-1:2013)  tính hiệu suất năng lượng CSPF để dán nhãn năng lượng cho máy điều hòa phòng các loại (kể cả biến tần), trong đó bin nhiệt độ mùa hè tham chiếu là 1817h. CSPF tính theo bin 1817h, ngoài dùng để dán nhãn năng lượng, còn để phục vụ công tác quản lý cũng như nhận diện, đánh giá và so sánh các loại máy điều hòa trong công tác quản lý năng lượng cũng như xuất nhập khẩu trên cùng một mặt bằng điều kiện thử nghiệm giữa các quốc gia trên thế giới. 
Nhãn năng lượng đang áp dụng đối với sản phẩm điều hòa không khí tại Việt Nam.
Tuy nhiên, vì bin thực của các vùng khí hậu của Việt Nam lớn hơn nhiều so với con số 1817h nên không thể dùng các dữ liệu này để tính tiêu thụ năng lượng cho máy lắp đặt tại các địa phương ở Việt Nam.
Muốn tính được tiêu thụ năng lượng, cần phải biết được chính xác bin nhiệt độ của địa phương lắp đặt máy. 
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tính toán tiêu thụ năng lượng cho điều hòa không khí tại các địa phương khác nhau và các vùng khí hậu khác nhau. Từ đó, chúng tôi đề xuất bổ sung thông tin chi tiết về hiệu suất và điện năng tiêu thụ (kWh điện/năm) theo từng khu vực địa lý khí hậu cụ thể, góp phần cải tiến nhãn năng lượng tại Việt Nam.
Việc bổ sung thông tin tiêu thụ năng lượng theo vùng khí hậu trên nhãn năng lượng cho điều hòa không khí không chỉ hỗ trợ người tiêu dùng đưa ra lựa chọn kinh tế hơn mà còn giúp cơ quan chức năng tối ưu hóa công tác quản lý năng lượng quốc gia.
Như vậy là, với mỗi vùng khí hậu khác nhau, mức độ tiêu thụ năng lượng (kWh điện/năm) của điều hòa sẽ không giống nhau. Tại Việt Nam phân vùng khí hậu như thế nào thưa ông?
GS.TS. Nguyễn Đức Lợi: 
Theo mô hình phân vùng của UNEP 2019, lãnh thổ Việt Nam chia thành 3 vùng khí hậu chính dựa trên đặc trưng nóng ẩm: Bao gồm: Vùng 0A (Cực nóng ẩm; Vùng 1A (Rất nóng ẩm) và Vùng 2A (Nóng ẩm). 
Mặc dù việc sử dụng phân vùng của UNEP giúp Việt Nam dễ dàng hội nhập quốc tế, nhưng nghiên cứu thực tế cho thấy phân vùng này không phù hợp cho việc tính toán tiêu thụ năng lượng tại nước ta do sai số vượt quá 10%.
Nhóm nghiên cứu đề xuất Việt Nam nên áp dụng hệ thống 7 vùng khí hậu như QC 02:2022BXD để dán nhãn năng lượng. Trong đó, nhóm khí hậu miền Bắc gồm 4 vùng và Nhóm khí hậu miền Nam gồm 3 vùng. 
Thông tin tiêu thụ năng lượng theo vùng khí hậu trên nhãn năng lượng cho điều hòa không khí giúp người dân dễ dàng nhận diện, so sánh và lựa chọn loại máy điều hòa phù hợp.
Ông có thể chi tiết hơn về kết quả tính toán hiệu suất của điều hòa khi hoạt động tại các vùng khí hậu của Việt Nam?
GS.TS. Nguyễn Đức Lợi: 
Do đặc điểm khí hậu đặc biệt của Việt Nam là miền Nam không có mùa đông, và miền Bắc có mùa đông nhưng mùa đông rất ngắn và ôn hòa nên tiêu chuẩn Việt Nam quy định chỉ sử dụng hiệu suất mùa làm lạnh (mùa hè) CSPF thay cho hiệu suất cả năm APF (Annual Performance Factor) là hợp lý. Tuy nhiên, đáng tiếc là trong quy chuẩn và tiêu chuẩn về khí hậu của Việt Nam lại chưa có dữ liệu chính thức về bin nhiệt độ cho các địa phương khác nhau.
Điện năng tiêu thụ theo năm cho máy đều hòa 9.000 Btu/h với các mức sao năng lượng khác nhau tại vùng Nam Bộ và Nam Trung Bộ.
Chúng tôi đã căn cứ vào các nguồn dữ liệu thu thập được về khí hậu Việt Nam để nghiên cứu xây dựng bin cơ sở và bin mùa hè cho 30 địa phương, tổng hợp, so sánh và phân vùng khí hậu tương tự như tiêu chuẩn của UNEP (tương đồng với tiêu chuẩn ASHRAE 169 của Mỹ), với nhiệt độ chuyển mùa T0 = 20oC. 
Chúng tôi đã tính tiêu thụ năng lượng cho 1 máy 9000 Btu/h với CSPF là 4,83 làm ví dụ và tiến hành so sánh tiêu thụ năng lượng của máy tại các địa phương khác nhau và các vùng khí hậu khác nhau theo đề xuất của UNEP (0A, 1A, 2A), và của QC 02:2022BXD (IA, IB, IC, ID, IIA, IIB, IIC).
Sau khi tiến hành nghiên cứu thực tế, so sánh số liệu, chúng tôi đề xuất, và đưa ra chỉ dẫn về mức tiêu thụ năng lượng của điều hòa không khí đối với các vùng khí hậu nhất quyết không thể sử dụng dữ liệu thời tiết theo QC 02:2022BXD hay các dữ liệu khí hậu trước đó do sai số quá lớn. Cần thiết phải sử dụng các dữ liệu thời tiết thực tế từ các trạm khí tượng trong khoảng thời gian 10 năm gần đây nhất. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nóng lên toàn cầu gây ra. 
Xin ông cho biết, kinh nghiệm của thế giới đối với quy định về thông tin thời tiết trên nhãn năng lượng?
GS.TS. Nguyễn Đức Lợi :
Các quốc gia tiên tiến đã áp dụng các yếu tố phân vùng khí hậu hoặc điều kiện thời tiết lên nhãn năng lượng của thiết bị. 
Ví dụ: Úc là quốc gia tiêu biểu đã áp dụng việc hiển thị lượng điện năng tiêu thụ (kWh điện/năm) chi tiết theo các vùng khí hậu (địa lý) khác nhau trực tiếp trên nhãn năng lượng. 
Mỹ và Nhật Bản, trên nhãn năng lượng của các quốc gia này bên cạnh số sao đánh giá hiệu suất, thông tin về lượng điện năng tiêu thụ (kWh điện/năm) còn được ghi chú riêng biệt cho cả mùa hè và mùa đông để người dùng dễ dàng đối chiếu theo mùa.
Nhãn năng lượng của Úc (trái) và kiến nghị cho nhãn năng lượng Việt Nam (phải).
Chúng tôi đề xuất mô hình nhãn năng lượng mới cho Việt Nam xây dựng tương tự như thiết kế nhãn năng lượng của Úc. Theo đó, nhãn năng lượng sẽ hiển thị thông tin về mức tiêu thụ năng lượng cả năm (kWh điện/năm) và hiệu suất (CSPF) tại 7 vùng khí hậu khác nhau. 
Ngoài ra, trong tương lai có thể xây dựng thêm chỉ số bin nhiệt độ riêng cho các thành phố lớn có mật độ sử dụng điều hòa đặc biệt cao như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng để dán nhãn năng lượng chính xác hơn nữa. 
Theo ông nghiên cứu này mang lại lợi ich gì cho người tiêu dùng và cơ quan quản lý của nhà nước? 
GS.TS. Nguyễn Đức Lợi:
Đối với người tiêu dùng: Nếu được áp dụng, thông tin tiêu thụ năng lượng theo vùng khí hậu (địa lý) trên nhãn năng lượng cho điều hòa không khí giúp người dân dễ dàng biết được số kWh điện tiêu thụ theo năm cho 01 máy điều hòa cụ thể, so sánh và lựa chọn đúng loại máy điều hòa tiết kiệm điện, phù hợp cho mục đích sử dụng,  biết được chính xác hơn kinh phí đầu tư cũng như xác định được hóa đơn tiền điện hàng năm ở điều kiện thời tiết thực tế tại địa phương mình sinh sống, tránh việc chọn nhầm máy có điện năng tiêu thụ cao hơn , gây lãng phí, thiệt hại kinh tế và ảnh hưởng đến  môi trường.
Đối với công tác quản lý: Tạo cơ sở dữ liệu khoa học và chính xác hơn để dự báo nhu cầu tiêu thụ năng lượng thực tế của các hộ gia đình, khu dân cư, đô thị… theo vùng miền, từ đó hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý và hoạch định chính sách năng lượng quốc gia.
Xin cảm ơn ông.