Tuesday, 14/04/2026 | 23:02 GMT+7
Mái nhà mát mẻ - loại mái nhà có thể giữ được nhiệt độ mát dưới ánh mặt trời bằng cách giảm thiểu sự hấp thụ quang năng và tối đa hoá hiệu quả thải nhiệt – sẽ giúp giảm thiểu một lượng nhiệt lớn từ mái nhà vào bên trong, từ đó làm giảm nhu cầu sử dụng điều hoà nhiệt độ trong các toà nhà thương mại.
Có ý kiến cho rằng, với công nghệ nêu trên, mái nhà mát mẻ có thể gây ra tình trạng gia tăng nhu cầu sử dụng điện vào mùa đông để bật máy sưởi. Tuy nhiên, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng lượng điện cắt giảm được trong mùa hè vẫn cao hơn nhiều so với lượng điện tăng lên trong mùa đông. Nghiên cứu này được tính toán dựa trên các nhân tố như mô hình năng lượng trong toà nhà, giá điện thực tế, lượng khí phát thải do sản xuất điện,…

Tại Mỹ, các mô hình năng lượng bao gồm 4 loại: văn phòng mới (hoàn thành sau năm 1980), văn phòng cũ (trước năm 1980), cửa hàng bán lẻ mới (sau năm 1980), cửa hàng bán lẻ cũ (trước năm 1980).
Hai loại mái nhà được thí nghiệm là loại mới màu trắng (có độ phản xạ 0,55) và loại cũ màu xám (có độ phản xạ 0,2). Kết quả cho thấy việc sử dụng loại mái nhà mới có độ phản xạ cao sẽ giúp tiết kiệm khá nhiều năng lượng làm mát, cho dù mức tiết kiệm là khác nhau giữa các thành phố.
Tính tổng thể, việc chuyển đổi 80% trong số 2,58 tỷ m2 diện tích mái nhà tại các toà nhà thương mại trên toàn nước Mỹ có thể giúp tiết kiệm đến 6,6 tỷ kWh điện, tương đương 735 triệu USD. Điều này đồng thời cũng sẽ giúp cắt giảm 6,23 triệu tấn CO2, tương đương với 1,2 triệu xe hơi.
Anh Tuấn (Theo Heat Island Group)
The 9th VEPG Steering Committee Meeting: Strengthening Coordination for Viet Nam’s Just Energy Transition
23/01/2026
Energy Manager Training Course in Ho Chi Minh City
Prime Minister Issues Directive to Strengthen Electricity Saving and Promote Rooftop Solar Power Development
Launch of energy manager training courses in Hanoi and Ho Chi Minh City
Thai Nguyen Enterprises Save Energy for Sustainable Growth
Large-Space Cooling Solution Helps Achieve Up to 36% Annual Energy Savings
Strict and Effective Implementation of the VNEEP3