Saturday, 11/07/2026 | 01:25 GMT+7

[Emagazine] Ngành than nhân rộng mô hình tiết kiệm năng lượng

10/07/2026

Với Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, tiết kiệm năng lượng không chỉ là giải pháp ứng phó trước khó khăn mà còn là chiến lược then chốt để nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm chi phí và hướng tới mục tiêu phát triển xanh, bền vững.


Với Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), tiết kiệm năng lượng không chỉ là giải pháp ứng phó trước khó khăn mà còn là chiến lược then chốt để nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm chi phí và hướng tới mục tiêu phát triển xanh, bền vững.


Là doanh nghiệp quản lý gần 70 đơn vị thành viên hoạt động trong các lĩnh vực than, khoáng sản, điện và vật liệu nổ công nghiệp, TKV thuộc nhóm cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm quốc gia với cường độ tiêu thụ năng lượng cao. Trung bình mỗi năm, Tập đoàn sản xuất khoảng 40-45 triệu tấn than, tiêu thụ trên 700 triệu kWh điện, chưa kể lượng lớn nhiên liệu diesel sử dụng cho thiết bị cơ giới, vận tải và khoan nổ mìn tại các mỏ lộ thiên.


Những nguyên nhân chính khiến tiêu thụ năng lượng cao trong ngành than gồm: công nghệ khai thác và tuyển còn lạc hậu ở một số đơn vị; hệ thống bơm, quạt gió và động cơ công suất lớn chưa được tối ưu hóa; tổn thất năng lượng trong quá trình vận chuyển, sàng tuyển; cùng với việc quản trị năng lượng chưa đồng bộ giữa các đơn vị thành viên. 

Trung bình mỗi năm, TKV sản xuất khoảng 40-45 triệu tấn than, tiêu thụ trên 700 kWh điện.

Ở nhiều mỏ hầm lò, hệ thống thông gió và bơm thoát nước phải vận hành liên tục 24/24 giờ để đảm bảo an toàn và duy trì điều kiện sản xuất, khiến điện năng tiêu thụ chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu chi phí. Khi độ sâu khai thác ngày càng tăng, nhu cầu thông gió, làm mát và bơm nước cũng tăng theo, làm gia tăng đáng kể mức tiêu hao điện năng trên mỗi tấn than khai thác.


Bên cạnh đó, đặc thù địa chất phức tạp tại các vùng mỏ như Quảng Ninh khiến quá trình khai thác đòi hỏi nhiều công đoạn trung gian và thiết bị phụ trợ, kéo theo mức tiêu thụ năng lượng cao hơn so với các mỏ có điều kiện thuận lợi. Hoạt động vận tải than từ khai trường về cảng, nhà máy sàng tuyển hoặc đơn vị tiêu thụ cũng phát sinh tổn thất năng lượng đáng kể do quãng đường dài và phương tiện chưa đồng bộ. 


Trong bối cảnh chi phí năng lượng ngày càng tăng và yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính ngày càng nghiêm ngặt, việc nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, đổi mới công nghệ khai thác, áp dụng hệ thống quản lý năng lượng theo tiêu chuẩn quốc tế và đẩy mạnh tự động hóa được xem là giải pháp then chốt để ngành than giảm cường độ tiêu hao năng lượng, nâng cao sức cạnh tranh và phát triển bền vững.

Ngày 17/3/2025, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 625/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đến năm 2030, định hướng đến năm 2045. Một trong những trụ cột quan trọng được xác định là ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ, cơ giới hóa, tự động hóa và chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh, tiết kiệm năng lượng và phát triển bền vững.


Chiến lược đặt mục tiêu giai đoạn 2021–2030 đạt doanh thu 130–200 nghìn tỷ đồng/năm, lợi nhuận 3.500–6.000 tỷ đồng/năm; giai đoạn 2031–2045 nâng doanh thu lên 200–300 nghìn tỷ đồng/năm. Để đạt được các chỉ tiêu này, TKV xác định không thể chỉ dựa vào mở rộng khai thác mà phải dựa trên nền tảng tiết kiệm năng lượng, nâng cao hiệu suất và kiểm soát chi phí.

Cùng với việc giữ vững sản lượng, TKV chú trọng các giải pháp sử dụng hiệu quả tài nguyên như lựa chọn đồng bộ thiết bị hợp lý để tăng tỷ lệ thu hồi than hạ trần, nâng cao khả năng mang tải nhằm giảm kích thước trụ bảo vệ, khai thác thu hồi than ở các trụ bảo vệ, tối ưu hóa sơ đồ công nghệ và tận thu tài nguyên từ những tàn tập trung có chất lượng phù hợp. Nhờ đó, hệ số thu hồi than trong khai thác hầm lò được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ tổn thất than hầm lò đã giảm từ 19,5% năm 2020 xuống còn 18,9% vào năm 2024. Song song, tỷ lệ thu hồi than sạch cũng liên tục tăng, giữ ở mức 91% trong giai đoạn 2020-2022, tăng lên 91,1% năm 2023 và đạt 92,9% năm 2024. Những kết quả này khẳng định nỗ lực của TKV trong khai thác tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, gắn sản xuất với phát triển bền vững.


Song song với đó, Tập đoàn đặc biệt chú trọng cơ cấu lại tiêu thụ năng lượng, xây dựng định mức tiêu hao điện năng, nhiên liệu cho từng khâu sản xuất, áp dụng cơ chế khoán, kiểm soát chặt chẽ và liên tục cải tiến công nghệ. Trong những năm qua, nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp, TKV đã tiết kiệm được khoảng 0,09% tổng năng lượng tiêu thụ, tương đương hàng chục triệu kWh điện và hàng chục nghìn tấn nhiên liệu. Kết quả này không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt mà còn tạo nền tảng quan trọng để Tập đoàn tiếp tục chinh phục các mục tiêu tiết kiệm năng lượng trong giai đoạn tới.

Thời gian qua, nhiều đơn vị của TKV đã triển khai đồng bộ các giải pháp tiết kiệm năng lượng, bước đầu mang lại kết quả rõ nét, giúp hạn chế lãng phí và gia tăng lợi ích cho doanh nghiệp. 

Tại Công ty CP Than Hà Tu, để khai thác trung bình 2,5 triệu tấn than mỗi năm, đơn vị tiêu thụ khoảng 22 triệu kWh điện, tương đương chi phí 31-36,5 tỷ đồng. 


Để vừa tiết kiệm điện, vừa đảm bảo năng suất hoạt đông của các hệ thống thiết bị máy móc, Công ty Cổ phần Than Hà Tu đã xây dựng phương án sử dụng điện hiệu quả, đặc biệt tập trung vào các hoạt động tiêu thụ nhiều điện năng lớn nhất. Đối với máy khoan, đơn vị đã thay biến tần khởi động mềm cho động cơ khoan và thay máy cắt điện cầu dao dầu sang máy cắt điện chân không rơ-le kỹ thuật số. Nhờ đó, điện năng tiêu thụ cho mỗi mét khoan giảm xuống chỉ còn 0,3 kWh, bằng một nửa so với trước đây, giúp tiết kiệm trung bình khoảng 5 tỷ đồng tiền điện mỗi năm. 


Ngoài máy khoan, máy xúc điện EKG phục vụ công tác xúc bốc ở khai trường dự án Bắc Bàng Danh cũng tiêu tốn trên 5,3 triệu kWh điện mỗi năm. Để tiết kiệm điện, đơn vị đã chuẩn bị tốt các điều kiện sản xuất như gương tầng công tác, đất nổ mìn, nền máy... Các thiết bị được bố trí và cân đối đủ cho các phương tiện vận tải làm việc liên tục, tránh tình trạng máy xúc điện chạy không tải chờ xe.


Hoạt động của hệ thống bơm nước moong cũng được đơn vị tính toán kỹ lưỡng, hạn chế tối đa việc bơm thoát nước cưỡng bức dẫn đến tiêu thụ điện năng cao. Các trạm bơm được quy hoạch hợp lý cũng rút ngắn chiều dài tuyến cắt điện, tuyến ống nhằm giảm thiểu sụt áp và tổn thất điện năng.


Biến tần và khởi động mềm cũng đã được lắp bổ sung cho các thiết bị động cơ bơm công suất lớn. Ngoài ra, trạm biến áp phục vụ riêng cho các máy bơm cũng được kiểm tra thường xuyên, tránh tình trạng làm việc ở chế độ không tải.


Không dừng lại ở các giải pháp trên, Than Hà Tu đặt mục tiêu dài hạn là loại bỏ dần thiết bị lạc hậu, đầu tư thay thế bằng công nghệ hiện đại, đồng thời đẩy mạnh tin học hóa và tự động hóa trong quản lý. Đặc biệt, Công ty sẽ triển khai cơ chế khoán chi phí điện năng tới từng đơn vị trực thuộc, gắn với kế hoạch sản xuất cụ thể, phấn đấu tiết kiệm thêm 5-10% điện năng so với định mức Tập đoàn giao.

Hay Công ty CP Than Núi Béo - Vinacomin (Than Núi Béo) trung bình mỗi năm tiêu thụ trên 50 triệu kWh và nhiều năm qua cũng là đơn vị tiên phong trong thực thi và triển khai nhiều giải pháp nhằm tiết kiệm điện, sử dụng năng lượng hiệu quả.


Ông Nguyễn Xuân Phùng - Công ty CP Than Núi Béo - Vinacomin cho biết, ngành than là ngành đặc thù do vậy để đưa các giải pháp công nghệ vào sản xuất đã khó, ứng dụng các công nghệ để tiết kiệm năng lượng còn khó khăn hơn rất nhiều. Tuy nhiên, trong những năm gần đây Than Núi Béo đã áp dụng nhiều giải pháp từ các giải pháp quản lý nội vi đến giải pháp đầu tư có chi phí lớn để thực hiện các quy định của pháp luật cũng như Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tiết kiệm năng lượng. 

Cụ thể, trên 80% thiết bị chiếu sáng được công ty thay thế bằng đèn Led tiết kiệm điện; các kho tàng, khu vực làm việc được Than Núi Béo thiết kế tận dụng tối đa ánh sáng và thông gió tự nhiên.


Tại khu vực sản xuất, để tiết kiệm điện, các thiết bị có công suất lớn hơn 20kW được Than Núi Béo lắp thiết bị điều khiển đóng cắt bằng biến tần và khởi động mềm cho một số thiết bị như: Máy nén khí, băng tải, máy nghiền, trạm quạt gió hầm lò, bơm nước hầm lọ…; các thiết bị không làm việc được cắt điện bằng aptomat tổng; vận hành các máy bơm vào giờ thấp điểm (từ 0h đến 5h sáng)…


Cùng với đó hệ thống lưới điện được bảo dưỡng, duy tu thường xuyên tránh tổn thất điện áp trên đường dây, giảm tối đa thời gian thiết bị chạy không tải, non tải.


Ngoài ra, công ty cũng đã đầu tư các máy móc thiết bị hiện đại, an toàn và tiết kiệm năng lượng đưa vào trong dây chuyền sản xuất công nghệ có hiệu suất năng lượng cao như động cơ, máy bơm, các thiết bị thông gió.

Song song với áp dụng công nghệ hiện đại, tự động hóa vào sản xuất, những năm qua Than Núi Béo cũng đã nghiên cứu, sử dụng nguồn năng lượng thay thế điện năng ở khâu phụ trợ nhằm tiết kiệm điện năng trong dây chuyền sản xuất.


Ông Nguyễn Văn Phùng cho biết, từ năm 2017 công ty đã sử dụng sản phẩm tại chỗ là than cám 5, cám 6 - đây là loại than có nhiệt trị thấp để đốt nồi hơi loại ghi xích có cơ cấu tiết kiệm năng lượng. Lượng hơi này được thông qua các đường ống bằng thép đúc được bọc bảo ôn cách nhiệt dẫn hơi nóng đến hệ thống các thiết bị phục vụ cho các hoạt động: Tắm, giặt, sấy, nấu cơm điều hòa nhiệt độ nhằm gia nhiệt cho các thiết bị...


Thực tiễn cho thấy, trong một ngành công nghiệp nặng có cường độ tiêu thụ năng lượng lớn như than, mỗi giải pháp tiết kiệm dù nhỏ khi được nhân rộng trên quy mô toàn Tập đoàn đều mang lại hiệu quả kinh tế và môi trường đáng kể. Việc kiên trì đổi mới công nghệ, hoàn thiện quản trị năng lượng và lan tỏa các mô hình tiết kiệm hiệu quả không chỉ giúp TKV giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn góp phần quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng xanh, giảm phát thải và phát triển bền vững của Việt Nam trong những thập niên tới.